a-  Gỗ cẩm lai (Dalbergia bariaensis)

Cẩm Lai là một loại gỗ quý, gỗ có màu nâu hồng, có vân đen, cứng, thớ mịn, khá ròn, rễ gia công, mặt cắt nhẵn, rễ đánh bóng, ăn véc ni. Thường được dùng để đóng đồ đạc cao cấp.

 

 

b- Gõ đỏ(Afzelia xylocarpa)

Gỗ có đỏ màu đỏ nhạt hoặc đỏ thẫm , có chỗ nổi vằn đen giống da hổ, nên có nơi còn gọi là cây Hổ bì. Gỗ cứng, rất bền, thường được dùng đóng bàn ghế, giường tủ, đồ chạm trổ cao cấp. Những u gỗ trên thân có…

 

c-Gỗ Giáng Hương.(Pterocarpus  pedatus pierre) :

Gỗ bên,có mầu nâu hồng,mịn đẹp và thơm.
– Gỗ bền,đẹp thường được dùng để đóng bàn ghế,giường tủ,tạc tượng khắc tranh.
– Gỗ có màu nâu hồng,mịn đẹp và thơm.
– Gỗ khá nặng,vân đẹp,không bi mối mọt,ít cong vênh,do lắm dầu nên ít nứt nẻ.
– Nhựa cây có màu đỏ,có thê dùng để nhuộm,khi ngâm,nước sẽ chuyển màu xanh như  luyn(nhớt)

d- Gỗ Mun.( D.mun H.Lec).

Gỗ nặng, thớ gỗ rất mịn,có màu đen tuyền khi dùng lâu sẽ bong như sừng, hoặc màu đen sọc trắng   – Là cây gỗ nhỏ
– Thường được dùng để đóng bàn ghế, tạc tượng, đ iêu khắc tranh
– Gỗ nặng, thớ gỗ rất mịn
– Có màu đen tuyền khi dùng lâu sẽ bong như sừng, hoặc màu đen sọc trắng
– Khi ướt thì mềm rễ sử lý gia công, nhưng khi khô thì rất cứng
– Gỗ rất bền, chắc không bị mối mọt ( rác thì hay bị mọt) ít cong vênh,hay nứt chân chim.

e- Gỗ trắc :

huộc cây gỗ lớn,gô rất cưng,nặng,thớ gỗ mịn có mùi chua nhưng không hăng,trong gỗ có tinh dầu.Trắc đỏ,Dalbergia balansae(trắc vàng),Dalbergia nigrescens(trắc đen)
– Thường dùng để đóng bàn ghế,giường tủ cao cấp,tạc tượng khắc tranh.
– Thuộc cây gỗ lớn,gỗ rất cứng,nặng,thớ gỗ mịn có mùi chua nhưng không hăng,gỗ rất bền không bị mối mọt,cong vênh.
– Gỗ có màu đỏ,màu vàng,màu đen tuỳ loài.
– Khi quay giấy giáp thì rất bóng bởi trong gỗ có sẵn tinh dầu.

Trắc đẹp nhất là loại ở đắclắk,hi ện nay rất hiếm,chỉ có phổ thông loại Trắc Laos,Campuchia hay là của Nam Phi.

f- Gỗ Huỳnh Đàn hay còn gọi là sưa bắc  bộ:

Sưa Bắc Bộ hay sưa hoặc trắc thối (do quả có mùi thối), cẩm lai Bắc Bộ, huê mộc vàng (danh pháp khoa học: Dalbergia tonkinensis) là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đậu (Fabaceae). Nó được tìm thấy rải rác tại Hải Nam, Trung Quốc ( hoàng (huỳnh) đàn Việt Nam) và Bắc Bộ, Việt Nam. Để lâu ngày gỗ sẽ hình thành lớp tuyết trắng như sương. Hiện nay, nó là loài đang bị đe dọa do mất mất môi trường sống.
-Là cây gỗ lớn, lá thường xanh có thể cao tới 10-15 m, sinh trưởng trung bình, thân màu vàng nâu hay xám, nứt dọc. Lá dài 9-20 cm; cuống không lông; lá kèm sớm rụng, nhỏ, có lông nhỏ mịn và thưa, màu nâu vàng. Các cuống nhỏ không lông; số lá chét 5-9, với lá chét tận cùng thường là to nhất, hình trứng hay hơi thuôn dài, nhẵn, chất da, có lông mịn lơ thơ khi non, nhanh chóng chuyển thành không lông, gốc lá chét tròn, nhọn mũi. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá, khoảng 5-15 cm. Hoa trắng có đài hợp, thơm. Quả dạng quả đậu hình trứng thuôn dài, dài 5-6 cm, rộng khoảng 1 cm và chứa 1-2 hạt dạng bầu dục, đường kính khoảng 9 mm. Cành non màu xanh có đốm bì khổng màu trắng. Hoa ra tháng 4-7. Quả chín thu hoạch tháng 11-12.Gỗ trắc thối cho mùi thơm quyến rũ thoảng nhẹ kiểu hương trầm. Khi đốt tàn có màu trắng đục.
-Sử dụng:Gỗ trắc thối chỉ dùng phần lõi những cây trên trăm tuổi. Gỗ sưa thớ mịn, vừa cứng lại vừa dẻo, có nhiều hoa văn đẹp. Thời phong kiến vua chúa dùng gỗ trắc thối để đóng đồ nội thất cao cấp trong cung đình vì nó vừa là hương liệu vừa là dược liệu. Những năm gần đây, giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô săn lùng trắc thối để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế Trung Quốc trước đây. Người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ trắc thối có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân hủy. Ngoài ra, cây trắc thối thường gắn với các điển tích của Phật giáo, do đó ngày nay người ta làm những xâu tràng hạt với giá vài ngàn USD.

g- Gỗ Sưa (Dalbergia cochinchinensis) :

Gỗ vừa cứng lại vừa dẻo, chịu được mưa nắng Gỗ có màu đỏ, màu vàng, có vân rất đẹp Có mùi thơm mát thoảng hương trầm

Là cây gỗ nhỏ, còn có tên khác là trắc thối
– Gỗ sưa có ý nghĩa tâm linh rất lớn, Thời phong kiến vua chúa thường dùng gỗ sưa để đóng đồ nội thất trong cung đình vì nó vừa làm hương liệu vừa làm dược liệu
– Gỗ vừa cứng lại vừa dẻo, chịu được mưa nắng
– Gỗ có màu đỏ, màu vàng, có vân rất đẹp
– Có mùi thơm mát thoảng hươngtrầm

h- Gỗ Gụ :

Có thớ thẳng,vân đẹp mịn,màu vàng trắng, để lâu chuyển màu nâu sẫm,rôì chuyển thành màu cánh dán,lâu năm đen như sừng.
– Gỗ quý,bền dễ đánh bóng,không bị mối mọt,ít cong vênh.Gỗ hay được dùng để đóng hàng mộc

– Nội thất,Sập gụ,vì  nằm  ngủ  trên Sập  gụ  sẽ  khoan khoái  không bị  đau   mình  mẩy  như  các  loại

gỗ  khác. tủ chè, bàn ghế, giường tủ cao cấp.v.v.
– Gỗ gụ có thớ thẳng,vân đẹp mịn, màu vàng trắng,để lâu chuyển màu nâu sẫm
– Gỗ có mùi chua nhưng không hăng.
– Mọc nhiều ở miền trung và miền nam, Lào. Campuchia

g- Gỗ sồi:

Gỗ sồi (oak) được nhập khẩu từ Mỹ. Các sản phẩm nội thất được làm bằng gỗ sồi luôn tạo cảm giác ngôi nhà hài hòa với ánh sáng tự nhiên, trẻ trung, ấm cúng và hiện đại.Gỗ sồi gồm có 2 loại: Sồi Trắng và Sồi Đỏ

Gỗ Sồi đỏ (Red Oak) – Tên Khoa Học : Quercus spp.

Màu sắc, mặt gỗ, đặc tính và đặc điểm của gỗ Sồi đỏ có thể thay đổi tùy thuộc vào từng vùng trồng gỗ. Về cơ bản gỗ Sồi đỏ tương tự như gỗ Sồi trắng.

Dát gỗ từ màu trắng đến nâu nhạt, tâm gỗ màu nâu đỏ hồng. Gỗ có ít đốm hình nổi bật vì các tia gỗ nhỏ hơn. Đa số thớ gỗ thẳng, mặt gỗ thô.

Đặc tính ứng dụng:

Gỗ chịu máy tốt, độ bám ốc và đinh tốt dù phải khoan trước khi đóng đinh và ốc. Gỗ có thể được nhuộm màu và đánh bóng để thành thành phẩm tốt. Gỗ khô chậm, có xu hướng nứt và cong vênh khi phơi khô. Độ co rút lớn và dễ bị biến dạng khi khô.

Đặc tính vật lý:

Gỗ cứng và nặng, độ chịu lực uốn xoắn và độ trung bình, độ chịu lực nén cao. Dễ uốn cong bằng hơi nước.

Độ bền:

Không có hoặc ít có khả năng kháng sâu ở tâm gỗ. Tương đối dễ xử lý bằng chất bảo quản.

Công dụng chính:

Đồ gỗ, ván sàn, vật liệu kiến trúc nội thất, gỗ chạm và gờ trang trí nội thất, cửa, tủ bếp, ván lót, quan tài và hộp đựng nữ trang

và hộp đựng nữ trang.

Gỗ Sồi trắng (White Oak) – Tên Khoa Học: Quercus spp.

Có màu nâu trắng, dát gỗ màu nhạt, tâm gỗ từ nâu nhạt đến nâu sậm.

Đa số Sồi trắng có vân gỗ thẳng to và dài, mặt gỗ từ trung bình đến thô với các tia gỗ dài hơn Sồi đỏ. Vì vậy, Sồi trắng có nhiều đốm hình hơn.

Đặc tính ứng dụng: Gỗ chịu máy tốt, độ bám dính và ốc vít tốt dù phải khoan gỗ trước khi đóng đinh và ốc. Vì gỗ phản ứng với sắt nên người thao tác nên dùng đinh mạ kẽm. Độ bám dính của gỗ thay đổi nhưng gỗ có thể được sơn màu và đánh bóng để trở thành thành phẩm tốt. Gỗ khô chậm nên người thao tác phải cẩn thận để tránh nguy cơ rạn nứt gỗ. Vì độ co rút lớn nên gỗ dễ bị biến dạng khi khô.

Đặc tính vật lý: Gỗ cứng và nặng, độ chịu lực uốn xoắn và lực nén trung bình, độ chắc thấp nhưng rất dễ uốn cong bằng hơi nước. Sồi trắng miền Nam lớn nhanh hơn và các vòng tuổi gỗ rộng, có khuynh hướng cứng và nặng hơn.

Độ bền: Tâm gỗ có khả năng kháng sâu, không bị các loại mọt gỗ thông thường và bọ sừng tấn công, gỗ tuyệt đối không thấm chất bảo quản, dát gỗ tương đối không thấm chất này.

Công dụng chính: Làm cửa cao cấp, ván sàn, tủ buffer, tủ bếp, gỗ chạm trổ, gờ trang trí, ván lót, tà vẹt đường sắt, cầu gỗ, ván đóng thùng, quan tài và hộp đựng nữ trang…

  1. h. Gỗ Tần Bì (Ash) – Tên Khoa Học: Franxinus spp.Mô tả chung: Dát gỗ màu từ nhạt đến gần như trắng, tâm gỗ có màu sắc đa dạng, từ nâu xám đến nâu nhạt hoặc vàng nhạt sọc nâu. Nhìn chung vân gỗ thẳng, to, mặt gỗ thô đều. Thứ hạng và trữ lượng tần bì có dát gỗ màu vàng nhạt và một số đặc tính khác tùy vào từng vùng trồng gỗ.

Sách đỏ
Danh mục sách đỏ cây trồng Việt Nam
Danh sách cây cho gỗ nhóm 1 ở Việt Nam
Timcay.com
Hình ảnh thực vật rừng Việt Nam

Đặc tính ứng dụng: Tần bì có khả năng chịu máy tốt, độ bám ốc, bám đinh và dính keo cao, dễ nhuộm màu và đánh bóng. Tần bì tương đối dễ làm khô. Gỗ ít bị biến dạng khi sấy.

Đặc tính vật lý: Tần bì có khả năng chịu lực tổng thể rất tốt và khả năng này tương ứng với trọng lượng của gỗ. Độ kháng va chạm của tần bì thuộc loại tuyệt vời, gỗ dễ uốn cong bằng hơi nước.

Độ bền: Tâm gỗ không có khả năng kháng sâu. Dát gỗ dễ bị các loại mọt gỗ thông thường tấn công. Tâm gỗ tương đối không thấm chất bảo quản nhưng dát gỗ có thể thấm chất này.

Công dụng chính: đồ gỗ, ván sàn, đồ gỗ chạm khắc và gờ trang trí nội thất cao cấp, cửa, tủ bếp, ván lát ốp, tay cầm của các loại dụng cụ, các dụng cụ thể thao, gỗ tiện…

i- Gỗ Lim:

Gỗ lim là loài gỗ cứng, chắc, nặng, không bị mối mọt; có màu hơi nâu đến nâu thẫm; có khả năng chịu lực tốt. Vân gỗ dạng xoắn khá đẹp, nếu để lâu hay ngâm dưới bùn thì mặt gỗ có màu đen.

Gỗ lim thường được dùng nhiều nhất trong làm nhà gỗ như dùng làm cửa,cột,kèo,xà..và các bộ phận khác trong các công trình nhà gỗ theo nối cổ. Gỗ lim cũng được chuộm để làm những đồ gia dụng như giường,phản,bàn ghế…. đặc tính quan trong của gỗ lim là ít bị cong vênh, co ngót, nứt nẻ, biến dạng do thời tiết nên rất được ưa chuộm trong việc làm cửa,cầu thang và làm sàn nhà.

Trong trang trí nội thất hiện đại thì gỗ Lim lại không được ưa chuộm cũng vì nhiều lý do.

 

Gỗ lim quan niệm có độc tố trong quá trình tiếp xúc khi chế biến gỗ người thợ hay bị dị ứng hắt hơi hoặc mẩn ngứa, mình cũng là người thường xuyên tiếp xúc với gỗ lim cũng bị dị ứng nhưng thực tế di ứng cũng có nhiều lý do chứ không phải là do hoàn toàn chất gỗ Lim.

Gỗ lim quan niệm tâm linh thường được dùng làm đình,chùa hoặc các công trình tôn giáo nên khi có biến động các công trình trên bị phá hủy những nguyên liệu tạo nên các công trình đó đặc biệt là gỗ có thể tận dụng được trôi nổi rất nhiều trong dân gian. Nếu dùng gỗ đó làm các đồ gia dụng sẽ không tốt cho người dùng.

Phân biệt Lim Lào và Lim Nam Phi:

*Về hình thức:

Khi chưa phun màu, gỗ Lim Lào có màu sắc đỏ hơn và đậm màu hơn. Nhưng khi phun màu rồi
thì sản phẩm làm bằng gỗ Lim Lào sẽ có màu sắc sáng bóng hơn sản phẩm làm bằng gỗ Lim Nam Phi.

Vân gỗ Lim Lào mau hơn, tom gỗ mịn hơn vì thông thường tuổi

trưởng thành để có thể khai thác được của gỗ Lim lào cao hơn so với Lim Nam Phi .

*Về tính chất cơ lý:

– Theo TCVN 362 – 1970 : Đánh giá khối lượng, thể tích của gỗ, với cùng một thể tích, Lim Lào có thể
nặng hơn Lim Nam Phi 1,2 – 1,5 l ần.

– Theo TCVN 1072 – 1971 : Đánh giá tính chất cơ lý của gỗ, Gỗ lim Lào có độ ổn định cao hơn trong
các điều kiện thời tiết nóng ẩm thay đổi thất thường.

Theo TCVN 363 – 1970, đánh giá cường độ nén dọc của gỗ

TCVN 364 – 1970, đánh giá cường độ kéo của gỗ

TCVN 3620 – 1970, đánh giá cường độ uốn tĩnh của gỗ

…các thông số đưa ra đều cho thấy Gỗ Lim Lào có khả năng chịu lực cao hơn, sến chắc hơn.
Các sản phẩm làm từ gỗ Lim Lào có tuổi thọ cao hơn so với các sản phẩm làm từ gỗ Lim Nam Phi.

Tuy vậy gỗ Lim Nam Phi cũng có những đặc điểm riêng tạo nên ưu thế, đó là khối lượng riêng
nhẹ hơn nên cũng dễ hơn cho việc vận chuyển khai thác và chế biến

k-  Gỗ Dổi

Dổi là loài cây cho gỗ tốt vì vậy nó rất dễ tiêu thụ trên thị trường. Hiện nay gỗ Dổi có giá khoảng 18 – 20 triệu đồng/m3. Ở nước ta, loại gỗ này đang dần trở nên khan hiếm do mức độ khai thác quá mức.

Đặc điểm

Cây gỗ dổi cao khoảng từ 6-10m.Thân trắng mốc, mọc thẳng, rễ cọc, tán lá trổ đều ra xung quanh. Cánh hoa Dổi màu trắng ngà, gần giống cánh hoa na. Hương thơm của hoa Dổi khá giống với hoa Móng rồng. Dổi là loài gỗ chắc và dẻo nên chịu được gió ,chịu hạn, thích hợp với đất miền núi. Dưới tán dổi ta có thể trồng chè, cà phê và các loại nông sản khác.

Trồng cây Dổi đem lại hiệu quả kinh tế rất cao vì nó dễ sống và phát triển nhanh. Sản phẩm của nó gồm hạt và gỗ. Hạt dổi dùng làm thuốc chữa bệnh hoặc làm gia vị. Sau 6-8 năm được hái quả và 30 năm được thu gỗ khoảng 1 met khối/ 1 cây.

Dổi là loài gỗ quý thuộc nhóm 3.  Thớ gỗ Dổi rất mịn, dai và chắc. Trong gỗ Dổi có tinh dầu thơm nên không bị sâu mọt tấn công. Loại gỗ này cũng có vân tự nhiên rất sắc nét. Điều kiện sinh trưởng của cây khá thích hợp với khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam.

Ứng dụng

Gỗ Dổi rất tốt nên thường được dùng để làm nhà , đóng đồ nội thất như tủ bếp, cửa gỗ, bàn ghế, giường phản nằm và các sản phẩm mỹ nghệ… Trong quá trình phát bãi, nhiều người dân đã không chặt cây dổi mà giữ lại để chúng được lớn lên vì họ biết nó là cây gỗ có giá trị.

Ưu điểm của cửa gỗ Dổi

Chịu được nhiệt độ cao, chịu nước và có độ bền tốt

Vân gỗ đẹp, sắc nét , gỗ nhẹ, đặc tính ổn định

Bên trong gỗ có tinh dầu thơm nên có khả năng chống mối mọt hiệu quả

Gỗ ít bị cong vênh, biến màu qua quá trình sử dụng

Giá cửa gỗ Dổi rất phải chăng

l- Chò Chỉ:

Tên thông dụng: Chò chỉ. Tên thông dụng khác: Mạy kho.

Nhóm: III (Cây gỗ lớn)

Đặc điểm của cây:
Cây gỗ to, thân hình trụ thẳng, cao 45- 50 m, đường kính 0,8- 0,9 m, chiều cao dưới cành là hơn 30m. Tán thưa, gốc có bạnh nhỏ. Vỏ màu xám, nứt dọc nhẹ. Thịt vỏ vàng và hơi hồng, có nhựa và có mùi thơm nhẹ. Cành lớn thường bị vặn. Lá hình mác hay bầu dục, mặt dưới và trên lá có các gân có lông hình sao. Cụm hoa mọc ở đầu cành hay nách lá. Hoa nhỏ, có mùi thơm đặc biệt. Quả hình trứng, hạt 3- 4
Phân bố:
Địa danh Việt Nam: Vùng Bắc Trung bộ: Hương Khê (Hà Tĩnh); Hương Sơn (Hà Tĩnh); Quan Hoá (Thanh Hoá); Quảng Bình; Quỳ Châu (Nghệ An) Vùng Đông Bắc: Chiêm Hoá (Tuyên Quang); Nà Hang (Tuyên Quang); Thanh Sơn (Phú Thọ). Địa danh quốc tế: Trung Quốc.
Giá trị:
Gỗ chò chỉ vàng nhạt hay hơi hồng, rất bền, chịu nước, chịu chôn vùi, dùng làm cột nhà, để xây dựng và đóng đồ đạc. Dáng đẹp, có thể làm cây đường phố
m- Gỗ Căm xe:

Tên khoa học: Xylia xylocarpa (Roxb) Taub. Xylia dolabriformis Benth.

Căm xe hay cẩm xe có danh pháp khoa học là Xylia xylocarpa, là cây gỗ lớn, cao trên 30m, đường kính có thể tới 1,2 m. Thân tròn thẳng, có bạnh vè lớn, lúc nhỏ cây thường cong queo. Vỏ màu nâu vàng hoặc xám đỏ. Lá kép lông chim 2 lần, có 1 đôi cuống cấp 2. Hoa nhỏ lưỡng tính, hoa tự hình cầu. Tràng hoa màu vàng, hợp gốc, cánh tràng hình dải. quả đậu hóa gỗ, hình lưỡi liềm. Khi chín tự nứt. Hệ rễ phát triển từ lúc cây còn nhỏ.

Cây phân bổ chủ yếu ở miền trung trở vào. Gỗ cứng và chắc, ở Việt Nam được xếp vào nhóm II trong bảng phân loại gỗ được xem như gỗ lim ở phía Bắc. Có giác lõi phân biệt, giác màu trắng vàng nhạt, dày, lõi màu đỏ thẫm hơi có vân, thớ gỗ mịn, nặng, tỷ trọng 1,15 (15% nước)
Đặc điểm chung:
Gỗ màu đỏ thẫm, hơi có vân sẫm nhạt xen kẽ, thớ mịn, gỗ nặng, bền, không mối mọt, chịu được mưa nắng, rất cứng.

n- Gỗ óc chó:

Tên Việt Nam : Gỗ Óc Chó (Walnut) Tên Khoa Học : Juglan nigra (Nguồn và bản quyền thuộc DG company)
Mô tả chung:
Gỗ óc chó (Walnut) thường có dát gỗ màu  kem, tâm gỗ màu từ nâu nhạt đến sôcola. Vân gỗ sóng hoặc cuộn xoáy tạo những đốm hình đẹp mắt và sang trọng mà không nhóm gỗ nào có được.

Gỗ óc Chó là sản phẩm của một quá trình thiết kế và sản xuất trên nền nguyên liệu Gỗ Óc Chó đen mang đậm màu sắc tự nhiên được nhập khẩu trực tiếp từ Bắc Mỹ.
Tất cả các sản phẩm này*trước hết đều được phủ một lớp dầu màu bảo vệ, một loại dầu có thể làm nội bật những màu sắc đầy chất tự nhiên, sắc sảo của Óc Chó Đen. Sau cùng là một lớp dầu màu tự nhiên. Các lớp dầu sử dụng trong quá trình sản xuất có khả năng bảo vệ đồ nội thất của chúng ta khỏi các vết bẩn thông thường và lưu được mầu sắc tự nhiên mộc mạc và lâu dài.

Màu sắc tự thân của Gỗ óc chó luôn là gam mầu được yêu thích nhất trên toàn thế giới và tương tự vậy tại Việt nam.

Đặc tính ứng dụng:
Gỗ chịu máy tốt, độ bám keo và ốc vít tốt . Gỗ giữ sơn và màu nhuộm rất tốt, có thể đánh bóng để trở thành thành phẩm tốt. Gỗ khô chậm nên người sản xuất phải có kỹ năng hiểu về đặc tính của gỗ để sản xuất thao tác một cách hợp lý nhất.

Đặc tính vật lý:
Gỗ có độ cứng ,độ chịu lực uốn xoắn và lực nén trung bình, độ chắc thấp nhưng rất dễ uốn cong bằng hơi nước.
Độ bền:
Tâm gỗ có khả năng kháng sâu, là một trong những loại gỗ có độ bền cao ngay cả trong điều kiện dễ hư mục.

O- Gỗ Powmu:

Cây pơmu là một loại cây gỗ quý, thân thẳng, tán hình tháp, không có bạnh ở gốc, chiều cao 25-30 m , đ­ường kính từ 1-2 m , pơmu có vòng đời kéo dài tới hàng trăm năm . Ở nước ta , pơmu phân bố trải rộng từ Lai Châu đến Ninh Thuận . Tại huyện Nam Giang (tỉnh Quảng Nam ) , người ta đã phát hiện được pơmu trong một quần thể cây cổ thụ (khoảng 400 ha) trên dãy núi cao 1.100m thuộc hai xã Laêê và Ladêê Trong cuộc sống , người tiêu dùng ưa chuộng những vật dụng từ gỗ pơmu bởi gỗ có vân đẹp , nhẹ , bền , không bị mối mọt , có tác dụng xua đuổi côn trùng .Theo kinh nghiệm dân gian thì gỗ pơmu có khả năng chống muỗi . Ngoài ra gỗ pơ mu còn dùng để chiết xuất tinh dầu pơmu dùng để làm nước hoa và có tác dụng diệt khuẩn . Hỗn hợp chứa farnesol và nerolidol từ tinh dầu pơmu có tác dụng dẫn dụ côn trùng

Gỗ Pơ Mu có rất nhiều ưu điểm trong thiết kế nội thất cũng như ngành công nghiệp xuất khẩu , trong nội thất gỗ Pơ Mu thường được sử dụng làm ván sàn , làm bàn ghế , làm vách trang trí , ốp trần , ốp tường , đong cửa , người dân tộc thừơng dùng gỗ pơ mu để xây dụng nhà của  …… trong sản xuất gỗ pơ mu còn có lợi ích kinh tế rất cao , dùng để chiết xuất tinh dầu phục vụ cho xuất khẩu

P- Gỗ thông:

Thông là một loại cây thân gỗ thẳng đứng, thích hợp trồng ở các khu vực khí hậu ôn đới. Hiện nay thông được trồng  nhiều ở nước ta, nhất là trên các vùng cao nguyên. Gỗ thông được dùng trong thiết kế và trang trí nội ngoại thất. Trong thông có nhựa, gọi là nhựa thông, loại nhựa này ngăn cản sự phá hoại của mối mọt bên ngoài lên gỗ. Do đó đồ nội thất làm bằng gỗ thông như một bức tường kiên cố chống lại mối mọt, sản phẩm bền đẹp

Ưu điểm của loại gỗ này là  nhẹ, dễ di chuyển, chống mối mọt tốt. hơn nữa vân gỗ thông rất đều, khi đánh vecni sẽ bóng và đẹp hơn. Thông dễ trồng và thời gian tăng trưởng ngắn có thể khai thác trong thời gian vừa phải, sản phẩm lại bền đẹp, chính vì vậy đây cũng là một trong những vật liệu được nhiều nhà thiết kế nội thất sử dụng trong thiết kế của mình.

có ít nhất có 2 loại:Gỗ Thông trắng: Cây to hơn 1 mét đường kính, thớ gỗ chỉ
có 1 màu, một chất, rất mềm, nhẹ, xốp, hầu như không mùi.
Gỗ Thông dầu: trái ngược lại cây kia, tức là không to,
đường kính chỉ 40 cm trở xuống, thớ gỗ có 2 sọc màu – vàng
sẫm và vàng nhạt, cứng hơn, nặng, chắc, và sặc mùi Thông,
đôi chỗ tụ nhựa gần như trong suốt, màu nâu sậm.

Q- Gỗ quế:

Cây quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm. Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20 cm, rộng khoảng 6 – 8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm. Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc. Trong các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%. Tinh dầu quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 – 90%. Cây quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng. Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào tháng 1,2 năm sau. Quả quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Bộ rễ quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc. Cây quế lúc còn nhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt , càng lớn lên mức độ chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3 – 4 năm trồng thì cây quế hoàn toàn ưa sáng. Tinh dầu quế có vị thơm, cay, ngọt rất được ưa chuộng.